
Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn là yêu cầu cần thiết để nâng chất lượng dự báo. Trong những năm qua, việc hiện đại hóa từ quan trắc, truyền tin đến dự báo đã chứng minh hiệu quả trong phòng chống thiên tai.
Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn (KTTV), đầu tư cho dự báo để chủ động trước thiên tai là chủ trương xuyên suốt trong nhiều văn bản pháp luật. Đó là Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Luật Phòng chống thiên tai; Luật KTTV, Chiến lược phát triển Ngành KTTV đến năm 2020; Đề án hiện đại hóa công nghệ dự báo và mạng lưới quan trắc KTTV giai đoạn 2010 – 2012; Quy hoạch mạng lưới quan trắc TN&MT quốc gia giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030...
Hệ thống thông tin KTTV hiện nay đã được đầu tư hiện đại và khá đồng bộ, từ hệ thống máy chủ, các hệ thống thông tin chuyên ngành; hệ thống kênh thông tin quốc tế (GTS và WIS); hệ thống mạng riêng luôn đảm bảo sự hoạt động ổn định, thông suốt trong mọi tình huống, nhất là trong khi có tình hình thời tiết nguy hiểm, phục vụ tốt yêu cầu của công tác dự báo, cảnh báo bão, lũ cũng như truyền tin kịp thời tới các bộ, ngành, địa phương theo quy định. Thực hiện phát báo quốc tế số liệu KTTV thời gian thực qua hệ thống viễn thông toàn cầu đảm bảo đúng quy định của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO); cơ sở dữ liệu thông tin KTTV đã lưu trữ được nhiều tài liệu mang tính lịch sử, khẳng định chủ quyền đất nước.
Hệ thống rađa thời tiết thực hiện thám sát bão, thiên tai nguy hiểm
Hiện đại hóa hệ thống quan trắc
Theo GS. TS. Trần Hồng Thái, Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng thủy văn, đến nay, lĩnh vực KTTV đã có một mạng lưới quan trắc KTTV liên tục được cấy dày, tăng cường tự động hóa bằng nguồn vốn đầu tư của nhà nước, xã hội hóa và trở thành mạng lưới nền cho mạng lưới quan trắc TNMT, hiện có: 284 trạm khí tượng bề mặt; 29 trạm khí tượng nông nghiệp; 14 trạm bức xạ; 782 trạm đo mưa tự động; 359 trạm thủy văn; 27 trạm khí tượng hải văn; có 180 trạm, điểm đo môi trường; mạng lưới trạm khí tượng cao không gồm có: 06 trạm thám không vô tuyến, 08 trạm đo gió trên cao bằng máy kinh vĩ quang học, 03 trạm đo tổng lượng ô dôn - bức xạ cực tím và 10 trạm ra đa thời tiết trải khắp mọi miền đất nước, 18 trạm định vị sét.
Với gần 1.500 kỹ sư có mặt trên khắp mọi miền của Tổ quốc, từ vùng sâu, vùng xa đến núi cao và hải đảo đã không ngại khó khăn gian khổ thầm lặng ngày đêm thu thập các số liệu điều tra cơ bản về KTTV, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ quan trắc, dự báo KTTV phục vụ công tác chỉ đạo PCTT phục vụ cho sự nghiệp phát đất nước.
Trong giai đoạn 2010 - 2020, mạng lưới trạm đã được tập trung đầu tư phát triển, cụ thể đưa vào hoạt động chính thức 735 trạm/công trình/phương tiện đo KTTV; rà soát, đánh giá hiện trạng của mạng lưới quan trắc KTTV về số lượng trạm, hạng trạm, trạm quan trắc tự động; danh mục, chủng loại phương tiện đo đang sử dụng trên mạng lưới trạm KTTV để thống nhất trong ngành, qua đó góp phần phục vụ công tác cảnh báo, dự báo, PCTT phát triển KT-XH hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước. Đến nay, mạng lưới trạm quan trắc KTTV tự động đã được đầu tư từ nhiều dự án bằng các nguồn vốn khác nhau với tỷ lệ số lượng trạm tự động so với trạm hiện có như sau: Đo mưa độc lập: 782/782 trạm (100%); khí tượng: 103/181trạm (36%); thủy văn: 125/234 trạm (35%); hải văn: 21/27 trạm (77,8%); khí tượng cao không: 26/26 trạm (100%); trạm bức xạ: 14/14 trạm (100%).
Phát triển các trạm đo mực nước tự động đã có bước tiến vượt bậc, với 268 trạm tự động đo và truyền số liệu mực nước tự động được đầu tư, phát triển giai đoạn 2010 - 2020, chiếm 53% tổng số trạm; hệ thống tự động này được đầu tư chủ yếu ở các Đài KTTV khu vực: Nam Bộ; Trung Trung Bộ; Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, đồng đằng Bắc Bộ. Việc đầu tư các trạm đo mực nước tự động đã nâng cao chất lượng dự báo thủy văn trên các hệ thống sông, hồ đập, công trình thủy lợi, thủy điện,… đặc biệt là dự báo xâm nhập mặn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long giúp các cấp lãnh đạo chỉ đạo công tác chuyển đổi mùa vụ, giống cây, vật nuôi phù hợp, hiệu quả nhất.
Trong những năm gần đây, với nhu cầu mang tính chi tiết-định lượng trong các thông tin dự báo khí tượng thuỷ văn của xã hội, Ngành khí tượng thuỷ văn Việt Nam đã từng bước hiện đại hóa theo phương châm có được một cơ sở hạ tầng mang tính bền vững, được đầu tư có trọng điểm, chuyên sâu cùng các lộ trình định hướng cụ thể nhằm đáp ứng các công nghệ dự báo hiện đại trên thế giới hiện nay, đặc biệt ứng dụng công nghệ dự báo số trong vấn đề dự báo thời tiết nguy hiểm, mang tính cực đoan như mưa lớn, bão...
Sử dụng mô hình dự báo hiện đại
Từ những năm 1999 Tổng cục KTTV đã triển khai mô hình dự báo khu vực với độ phân giải cao như mô hình HRM của C.H.L.B. Đức, mô hình WRF-ARW của Mỹ trên các hệ thống tính toán hiệu năng cao dựa trên nền tảng máy tính bó chia sẻ ngang hàng (MPI Cluster HPC). Cuối năm 2018, với việc triển khai một cách đồng bộ từ việc nâng cấp tính toán (hệ thống siêu máy tính CrayXC40) cùng việc đan dầy-đa dạng hóa công nghệ quan trắc đã bước đầu cho phép thử nghiệm công nghệ đồng hóa số liệu song song với công nghệ mô hình dự báo số chi tiết-phân giải cao vào trong nghiệp vụ dự báo thời tiết tại Tổng cục KTTV. Các nghiên cứu gần đây đều cho thấy các hiện tượng cực đoan đều liên quan nhiều đến yếu tố địa hình và hoàn lưu quy mô nhỏ. Ví dụ như đợt mưa lớn tại tỉnh Hà Giang xảy ra trong tháng 7/2020 với lượng mưa đo được ở một số điểm đạt từ 300 đến 400mm trong chưa đầy 6 tiếng. Đây là hiện tượng cực trị liên quan đến các quá trình đối lưu sâu, cục bộ đã phần nào được dự báo trước từ hệ thống công nghệ mới mà các hệ thống mô hình toàn cầu hiện nay đều không thể nắm bắt được.
Các sản phẩm dự báo từ hệ thống mô hình số trị của Tổng cục KTTV
Với phương châm liên tục, kịp thời, các hệ dự báo từ trung ương đến địa phương luôn theo dõi, dự báo, cảnh báo kịp thời về tình hình KTTV, nhất là các hiện tượng KTTV nguy hiểm, kết quả đem lại là chất lượng các bản tin cảnh báo, dự báo thời tiết, thủy văn ngày một nâng cao, nhiều tiến bộ khoa học, trang thiết bị, công nghệ mới đã được triển khai ứng dụng có hiệu quả vào công tác dự báo, cảnh báo KTTV. Tăng cường các bản tin dự báo thời tiết biển, đặc biệt là thời tiết biển khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, chú trọng đến đầu tư phát triển công nghệ phục vụ dự báo điểm chi tiết cho khoảng 600 điểm trên toàn quốc. Ngành cải tiến, thay đổi, điều chỉnh cả về hình thức và nội dung các bản tin dự báo, cảnh báo theo hướng rõ hơn, chi tiết hơn về ảnh hưởng của bão, mưa, lũ: Bản đồ dự báo bão dễ tham khảo hơn, đã nhận định rõ hơn về diễn biến mưa, vùng và thời gian có gió mạnh, khu vực nguy cơ lũ quét, sạt lở đất cao.
Các bản tin dự báo bão, lũ được phát sớm hơn từ 30 phút đến 1 giờ so với trước đây và chuyển ngay đến các đài KTTV khu vực, đài KTTV tỉnh để kịp thời phục vụ địa phương; đưa thông tin dự báo KTTV lên các trang thông tin điện tử chuyên ngành của Tổng cục KTTV, các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương, địa phương, các cơ quan chỉ đạo PCLB, góp phần quan trọng vào công tác phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, được Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền ở trung ương và địa phương, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.
Mở rộng hợp tác, nâng cao vị thế
Công tác KTTV là lĩnh vực không có biên giới, trong đó tất cả các nước cùng chịu tác động của các loại hình thiên tai có nguồn gốc KTTV và các nước đều cần có thông tin quan trắc và dự báo KTTV trong phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế.
Theo GS. Trần Hồng Thái, khoảng 5 năm trở lại đây, quan hệ hợp tác đã được định hướng đi vào chiều sâu, chúng ta không chỉ thu nhận những thông tin quốc tế, mà chúng ta đã đóng góp cho quốc tế cả về nguồn lực về nhân lực, tài chính và sản phẩm công nghệ. Ngành KTTV đang vươn tầm ra và nâng cao chất lượng của các hoạt động, và có thể khẳng định khả năng dự báo đang tiệm cận với công nghệ, trình độ của nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Ngành KTTV nước ta tham gia tích cực vào các hoạt động hợp tác đa phương với Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), Ủy ban Bão, Tiểu ban Khí tượng – Vật lý địa cầu ASEAN (ASCMG), Trung tâm Khí hậu khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (APCC)…
Việc chủ động đẩy mạnh HTQT theo chiều sâu, tận dụng hiệu quả nguồn vốn và ưu thế công nghệ của các tổ chức đa phương về KTTV đã hỗ trợ việc hiện đại hóa công nghệ dự báo KTTV, cảnh báo thiên tai KTTV và công tác ứng phó hiệu quả với BĐKH.
Việt Nam là thành viên tích cực, chủ nhà tổ chức hội thảo kỹ thuật và lễ kỷ niệm 50 của Ủy ban Bão quốc tế
Ngoài hợp tác đa phương, Tổng cục KTTV cũng đã tích cực triển khai các hoạt động HTQT song phương trong lĩnh vực quan trắc, dự báo và cảnh báo KTTV. Ngành KTTV đã và đang hợp tác chặt chẽ với hầu hết các nước có nền khoa học KTTV phát triển nhất, như: Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Vương quốc Anh; thiết lập nhiều kênh thông tin với các nước bạn như Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc để trao đổi thông tin, cùng đưa ra nhận định về dự báo và cảnh báo bão, mưa lớn...
Từ năm 2011, Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) đã chính thức công nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng, một thành viên chủ động trong công tác KTTV của thế giới. Bên cạnh việc chúng ta tiếp nhận các số liệu, các trao đổi thông tin kỹ thuật với các nước khác thì Việt Nam đã trở thành Trung tâm Hỗ trợ dự báo thời tiết nguy hiểm khu vực Đông Nam Á.
Dự kiến trong 1-2 năm tới, Việt Nam sẽ đảm nhận vai trò Trung tâm Hỗ trợ cảnh báo lũ quét khu vực Đông Nam Á. Ngành KTTV đang từng bước trở thành trung tâm hỗ trợ cho công tác đào tạo về dự báo cảnh báo thời tiết nguy hiểm, các hiện tượng lũ, lũ quét và sạt lở đất trên khu vực Đông Nam Á. Ngoài việc tham dự các hoạt động đào tạo dự báo viên của WMO, các tổ chức đa phương,…Tổng cục KTTV đã đăng cai tổ chức nhiều khóa đạo tạo kỹ thuật nghiệp vụ của WMO về dự báo cảnh báo thời tiết nguy hiểm, các hiện tượng lũ, lũ quét và sạt lở đất. Qua đó, số chuyên gia người Việt Nam được tham gia giảng dạy đang tăng lên qua từng khóa học, qua đó quốc tế đã thấy được rõ hơn vai trò của Việt Nam trong tiến trình phát triển hệ thống dự báo, cảnh báo KTTV toàn cầu. Bên cạnh những đóng góp cho WMO và những tổ chức trong khu vực, ngành KTTV cũng đã chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ về tài chính và công nghệ của các nước phát triển và đã có tiếng nói nhất định trong WMO. Về mặt định hướng, trong thời gian tới, chúng ta sẽ tiếp cận theo hình thức đưa các chuyên gia tham gia vào tại những sự kiện qui mô thế giới và đây là chiến lược HTQT mà ngành KTTV quan tâm, chỉ đạo và định hướng sâu sắc.
Nguồn tin: Website Bộ Tài nguyên và Môi trường
°C
°C
°C
°C
°C